Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

Những điều cần biết về ung thư tuyến tụy

Những điều cần biết về ung thư tuyến tụy
Ung thư tuyến tụy thường lây lan nhanh và hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó, là một lý do chính tại sao nó là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ung thư.

1.      Định nghĩa
Ung thư tuyến tụy bắt đầu trong các mô của tuyến tụy - một cơ quan ở bụng nằm theo chiều ngang phía sau phần dưới của dạ dày. Tuyến tụy tiết ra các enzyme tiêu hóa và kích thích tố giúp điều tiết sự trao đổi chất của đường.
Ung thư tuyến tụy thường có tiên lượng xấu, ngay cả khi chẩn đoán sớm. Ung thư tuyến tụy thường lây lan nhanh và hiếm khi được phát hiện ở giai đoạn đầu của nó, là một lý do chính tại sao nó là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ung thư. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể không xuất hiện cho đến khi bệnh ung thư tuyến tụy là khá muộn và phẫu thuật cắt bỏ là không thể.
2.      Các triệu chứng
Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư tuyến tụy thường không xảy ra cho đến khi bệnh được nâng cao. Khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện, có thể bao gồm:
Đau bụng trên có thể lan tới lưng.
Vàng da và lòng trắng mắt.
Chán ăn.
Trọng lượng mất mát.
Trầm cảm.
Các cục máu đông.
Đến gặp bác sĩ khi
Khám bác sĩ nếu có trải nghiệm giảm cân không giải thích được, đau bụng, vàng da, hoặc các dấu hiệu và triệu chứng đó làm phiền. Nhiều bệnh và các điều kiện khác với ung thư có thể gây ra dấu hiệu tương tự và các triệu chứng, do đó, bác sĩ có thể kiểm tra các điều kiện này cũng như đối với ung thư tuyến tụy.
3.      Nguyên nhân
Không phải rõ ràng những gì gây ra ung thư tuyến tụy.
Tìm hiểu về tuyến tụy
Tuyến tụy là dài khoảng 6 inch (15 cm) và trông giống như một quả lê. Tụy tạng là một phần quan trọng của hệ thống tiêu hóa. Nó tiết ra kích thích tố, bao gồm insulin, giúp cho quá trình chuyển hóa đường cơ thể. Và nó tạo ra dịch tiêu hóa để giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn.
4.      Các loại ung thư tuyến tụy
Các loại tế bào tham gia vào ung thư tuyến tụy giúp xác định điều trị tốt nhất. Các loại ung thư tuyến tụy bao gồm:
Ung thư hình thành trong các ống tuyến tụy (adenocarcinoma). Tế bào đường ống dẫn của tuyến tụy giúp sản xuất dịch tiêu hóa. Đa số các bệnh ung thư tuyến tụy là carcinoma tuyến. Đôi khi những khối u ung thư được gọi là exocrine.
Ung thư hình thành trong sản xuất các tế bào nội tiết tố. Ung thư hình thành trong các tế bào sản xuất hormone của tuyến tụy được gọi là nội tiết ung thư. Nội tiết ung thư tuyến tụy thì rất hiếm.
5.      Yếu tố nguy cơ
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tụy bao gồm:
Lớn tuổi, đặc biệt là trên 60 tuổi.
Chủng tộc da đen.
Thừa cân hoặc béo phì
Viêm mãn tính của tuyến tụy (viêm tụy).
Bệnh tiểu đường.
Lịch sử gia đình của hội chứng di truyền có thể làm tăng nguy cơ ung thư, trong đó có một đột biến gen BRCA2, hội chứng Peutz - Jeghers, hội chứng Lynch và u ác tính không điển hình nốt ruồi lành tính gia đình (FAMMM)
Cá nhân hay tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư tuyến tụy.
Hút thuốc.
6.      Các biến chứng
Khi tiến triển ung thư tuyến tụy, nó có thể gây biến chứng như:
Vàng da.: Ung thư tụy từ các khối ung thư ống mật gan có thể gây vàng da. Dấu hiệu bao gồm da vàng và mắt, nước tiểu có màu tối và màu phân nhạt.
Bác sĩ có thể đề nghị một ống nhựa hoặc kim loại (stent) được đặt bên trong ống mật để giữ nó mở. Trong một số trường hợp bỏ qua có thể cần thiết để tạo ra một cách mới cho mật chảy từ gan đến ruột.
Đau: Một khối u đang phát triển có thể nhấn vào dây thần kinh ở bụng, gây ra đau có thể trở thành nghiêm trọng. Thuốc giảm đau có thể giúp cảm thấy thoải mái hơn. Xạ trị có thể giúp khối u ngừng tăng trưởng tạm thời để cung cấp một số cứu trợ.
Trong trường hợp nặng, bác sĩ có thể đề nghị một thủ tục để đưa cồn vào các dây thần kinh kiểm soát đau ở bụng (celiac đám rối thần kinh). Thủ tục này các dây thần kinh ngừng gửi tín hiệu đau lên não.
Tắc nghẽn đường ruột. Ung thư tụy phát triển thành hoặc ép vào thành tá tràng, có thể chặn dòng chảy của thức ăn tiêu hóa từ dạ dày - ruột non.
Bác sĩ có thể khuyên nên đặt một ống (stent) được đặt trong ruột non để giữ nó mở. Hoặc phẫu thuật bỏ qua có thể là cần thiết để đính kèm dạ dày đến một điểm thấp hơn trong ruột không bị ung thư.
Trọng lượng mất. Một số yếu tố có thể gây ra giảm cân ở những người bị ung thư tuyến tụy. Buồn nôn và nôn gây ra bởi phương pháp điều trị ung thư hoặc khối u một cách nhấn vào dạ dày có thể làm cho nó khó khăn để ăn. Hoặc cơ thể có thể khó khăn chế biến các chất dinh dưỡng từ thức ăn đúng cách bởi vì tuyến tụy không làm cho tiêu hóa đủ.
Bổ sung enzyme tuyến tụy có thể được đề nghị để hỗ trợ tiêu hóa. Hãy cố gắng duy trì trọng lượng bằng cách thêm calo, nơi có thể và giờ ăn làm dễ chịu và thoải mái nhất có thể.
7.      Các giai đoạn của ung thư tuyến tụy
Sử dụng thông tin từ các xét nghiệm dàn dựng, bác sĩ chỉ định ung thư tuyến tụy. Các giai đoạn của ung thư tuyến tụy là:
Giai đoạn I. Ung thư là chỉ giới hạn ở tuyến tụy.
Giai đoạn II. Ung thư đã lan rộng ra khỏi các tuyến tụy đến các mô lân cận và các cơ quan và có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn III. Ung thư đã lan rộng ra khỏi các tuyến tụy đến các mạch máu lớn trên tuyến tụy và có thể đã lây lan đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn IV. Ung thư đã lan vượt xa tụy, như gan, phổi và màng bao quanh các cơ quan bụng (phúc mạc).
8.      Phương pháp điều trị và thuốc
Điều trị ung thư tuyến tụy phụ thuộc vào các giai đoạn và vị trí của ung thư cũng như tuổi tác, sức khỏe tổng thể và sở thích cá nhân. Mục tiêu đầu tiên của điều trị ung thư tuyến tụy là để loại trừ ung thư khi có thể. Khi đó không phải là một lựa chọn, trọng tâm có thể về phòng chống ung thư tuyến tụy từ phát triển, gây hại nhiều. Khi ung thư tuyến tụy tiên tiến và phương pháp điều trị không có khả năng cung cấp lợi ích, bác sĩ có thể gợi ý những cách để làm giảm triệu chứng và làm cho thoải mái như có thể.
a.      Phẫu thuật
Phẫu thuật có thể là một lựa chọn nếu ung thư tuyến tụy là giới hạn trong tuyến tụy. Hoạt động được sử dụng ở những người bị ung thư tuyến tụy bao gồm:
Phẫu thuật khối u trong đầu tụy. Nếu ung thư tuyến tụy nằm trong đầu của tuyến tụy, có thể xem xét một hoạt động gọi là một thủ tục Whipple (pancreatoduodenectomy). Các thủ tục liên quan đến việc loại bỏ Whipple đầu của tuyến tụy, cũng như một phần của (tá tràng) ruột non, túi mật và một phần của ống mật. Một phần của dạ dày có thể được gỡ bỏ. Bác sĩ phẫu thuật nối lại các phần còn lại của dạ dày, tuyến tụy và ruột để cho phép tiêu hóa thức ăn.
Whipple phẫu thuật mang một nguy cơ nhiễm trùng và chảy máu. Sau khi phẫu thuật, một số người trải nghiệm buồn nôn và nôn có thể xảy ra nếu dạ dày có khó khăn đổ đầy. Mong đợi một sự hồi phục lâu dài sau khi thủ tục Whipple. Sẽ dành 10 ngày trở lên tại bệnh viện và sau đó hồi phục trong vài tuần ở nhà.
Phẫu thuật khối u trong đuôi tuyến tụy và cơ thể. Phẫu thuật để loại bỏ các đuôi của tụy tạng hoặc đuôi và một phần nhỏ của cơ thể được gọi là pancreatectomy. Bác sĩ phẫu thuật cũng có thể loại bỏ lá lách. Phẫu thuật mang một nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng.
Nghiên cứu cho thấy phẫu thuật ung thư tuyến tụy có thể gây ra các biến chứng ít khi được thực hiện bởi bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm. Đừng ngần ngại hỏi về kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật với phẫu thuật ung thư tuyến tụy. Nếu có bất kỳ nghi ngờ, có được một ý kiến thứ hai.
b.      Xạ trị
Xạ trị sử dụng chùm tia năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể nhận được phương pháp điều trị phóng xạ trước khi hoặc sau khi phẫu thuật ung thư, thường kết hợp với hóa trị. Hoặc, bác sĩ có thể khuyên nên kết hợp các phương pháp điều trị phóng xạ và hóa trị khi ung thư không thể được điều trị bằng phẫu thuật.
Xạ trị có thể đến từ một máy bên ngoài cơ thể (tia bức xạ bên ngoài), hoặc nó có thể được đặt bên trong cơ thể gần bệnh ung thư (brachytheraphy). Bức xạ trị liệu cũng có thể được sử dụng trong phẫu thuật (mổ bức xạ).
c.       Hóa trị
Hóa trị là sử dụng thuốc để giúp tiêu diệt tế bào ung thư. Hóa trị có thể được tiêm vào tĩnh mạch hoặc dùng bằng đường uống. Có thể nhận được chỉ có một loại thuốc hóa trị liệu, hoặc có thể nhận được một sự kết hợp của các loại thuốc hóa trị.
Hóa trị cũng có thể được kết hợp với liệu pháp bức xạ (chemoradiation). Chemoradiation thường được sử dụng để điều trị bệnh ung thư đã lan tràn ra ngoài tuyến tụy, nhưng chỉ cho các cơ quan gần đó và không đến các vùng xa của cơ thể. Sự kết hợp này cũng có thể được sử dụng sau khi phẫu thuật để giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy có thể tái diễn.

Ở những người bị ung thư tuyến tụy cao cấp, hóa trị có thể được kết hợp với liệu pháp thuốc nhắm mục tiêu.

Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

  

Hút thuốc lá gây nguy cơ ung thư tủy xương cao - Sức Khỏe - Chăm sóc sức khỏe - Kiến thức y học - Sức khỏe gia đình
Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.
 Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.

 Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.
 GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.


 Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Hội chứng chèn ép tủy sống thường gặp trong ung thư
Hội chứng chèn ép tủy sống là một tai biến thường gặp trong ung thư, gây đau đớn và có thể gây mất chức năng thần kinh không phục hồi được.
Khi có tổn thương nguyên phát di căn đến cột sống gây chèn ép tủy sẽ gây ra hội chứng này. Ở người lớn, phần cuối cùng của tủy sống tương đương mức đốt sống thắt lưng 1, dưới mức này là đám rối thần kinh thắt lưng cùng tạo nên tổ chức đuôi ngựa trôi nổi trong dịch não tủy.

Nếu các tổn thương đốt sống, tủy sống phần trên mức thắt lưng 1 thì nguy cơ tổn thương gây chèn ép tủy sẽ cao hơn. Các ung thư thường gặp như di căn cột sống là ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, phổi, thận, ulympho không hodgkin, đa u tủy xương...
Triệu chứng như đau lưng có tính chất lan tỏa tại vùng đốt sống bị tổn thương chiếm 90% các trường hợp, yếu cơ có thể do bệnh nhân cảm nhận, hoặc do thăm khám phát hiện của thầy thuốc chiếm 75%.
Tình trạng yếu cơ nhanh cần phải phối hợp với bác sĩ ngoại khoa thần kinh, các nhà xạ trị để có biện pháp điều trị gấp, tránh các tổn thương thần kinh không phục hồi. Một số tổn thương tủy sống đoạn thấp có thể gây rối loạn cơ tròn bàng quang, trực tràng gây bí đái, bí ỉa. Rối loạn cảm giác, dị cảm, mất cảm giác cũng thường gặp.


Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hiệu quả nhất, CT cũng có giá trị cao, xạ hình xương chỉ có giá trị xác định có tổn thương đốt sống, không phát hiện được tủy sống bị ảnh hưởng.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày
1.       Ung thư dạ dày:
Ung thư dạ dày (bao tử) thường gặp, ở nam giới chỉ sau các ung thư gan và phổi, ở phụ nữ hàng thứ tư. Bệnh âm thầm nên biết trễ và trị khó. Ít ai ngờ bệnh dữ lại có thể phòng tránh được.

Dạ dày là cái túi rỗng, một khối nhỏ thường chẳng gây xáo trộn gì. Bệnh “câm nín” rất lâu, khi “lên tiếng” thì xấu rồi. Ban đầu mập mờ, chỉ có cảm giác ăn không tiêu. Bệnh nhiều mới gây ra cơn đau vùng bụng trên, khó tiêu dai dẳng và không thèm ăn. Trễ hơn có ói mửa, tiêu phân đen, sút cân mau lẹ.
Có người không tin bác sĩ nói có bệnh, để 6 tháng hoặc cả năm bệnh trổ rõ mới đi trị, uổng lắm! Chẳng thế, tính ra cứ mỗi 5 người bệnh thì có 4 người khi phát hiện, bệnh đã trở thành khó trị.
Người trên 40 tuổi ăn không tiêu dai dẳng, nên hỏi bác sĩ có cần soi dạ dày không. Thầy thuốc đưa ống soi mềm qua họng xuống đến dạ dày, thấy gì nghi ngờ thì chụp hình và làm sinh thiết. Ống soi mềm mại, thao tác của bác sĩ nhẹ nhàng. Vậy nên đừng vì sợ nội soi màmất đi cơ hội phát hiện sớm.
Chụp hình dạ dày cũng thông dụng. Uống một chất gọi là barýt rồi chụp nhiều phim X-quang lấy hình của dạ dày và tá tràng. Bác sĩ đọc phim có thể thấy được các điều bất thường.
Việc lựa chọn điều trị tùy thuộc bệnh ở giai đoạn nào, tổng trạng và ý muốn của người bệnh. Bác sĩ chia ra hai nhóm mổ cắt được và không cắt được.
Nếu ung thư còn nhỏ, bác sĩ cắt dạ dày bán phần, nhằm lấy phần dạ dày mang ung thư và bảo đảm lằn mức an toàn mô lành, phần còn lại của dạ dày đem nối với ruột non để thức ăn vẫn lưu thông được.
Nếu cần thì nạo các hạch lymphô. Cắt toàn phần là lấy trọn dạ dày và có thể lấy thêm cơ quan ở gần (lá lách chẳng hạn) khi ung thư ăn lan quá nhiều hoặc nằm ở phần trên (tâm vị) của dạ dày.
Phải đem thực quản nối với ruột non. Xạ trị dùng chùm tia phóng xạ giết các tế bào ung thư. Xạ trị trước mổ làm xọp khối bướu để dễ mổ cắt đi. Xạ trị sau mổ nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót.
Hóa trị dùng thuốc luân lưu khắp cơ thể giết các tế bào ung thư đã lan ra ngoài dạ dày, cũng dùng cho di căn xa hoặc làm bớt các triệu chứng thời kỳ trễ. Có thể kết hợp hóa và xạ trị. Với loại lymphôm dạ dày, hóa trị thường có hiệu quả.  Và trong số những trường hợp mổ được, có khoảng 40% trị tốt.
Nhiều người không ngờ ung thư sát thủ này lại do con vi khuẩn gọi là Helicobacter pylori ở trong dạ dày, liên thủ với chế độ ăn mặn và khói thuốc lá. Do đó, ung thư này khó trị nhưng lại có thể phòng tránh.
Thấy có triệu chứng như viêm loét dạ dày nên xin bác sĩ tư vấn soi dạ dày và xét nghiệm vi khuẩn H. pylori để có xử lý thích hợp. Nên ăn nhiều rau trái củ tươi. Tránh chế độ ăn mặn (cá khô mắm, mắm tôm, rau cải làm dưa, cà pháo, kim chi...). Tránh xa khói thuốc lá. Uống rượu ít thôi.
2.       Viêm loét dạ dày: Nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày ngày càng gia tăng nhanh và có xu hướng trẻ hóa ở nước ta. Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, nếu không được chữa trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm.
10 tuổi đã thủng dạ dày
Tại khoa Phẫu thuật trẻ em - BV Việt Đức, những năm gần đây số trẻ được phẫu thuật dạ dày ngày càng tăng, trung bình 5-7 ca/tháng. Như trường hợp bệnh nhi Nguyễn Thành N., 10 tuổi (ở Hưng Yên) được đưa vào cấp cứu trong tình trạng đau đột ngột, vật vã, nôn ra máu... Kết quả thăm khám khẳng định bé bị thủng dạ dày do viêm loét. Rất may N. được mổ cấp cứu kịp thời nên tránh nguy hiểm tới tính mạng
Đáng chú ý, nếu như đau dạ dày trước kia chỉ gặp ở người lớn thì ngày nay, số trẻ em mắc bệnh cũng chiếm tỷ lệ đáng kể do học tập căng thẳng, thức khuya, ăn uống không điều độ
Nguy hiểm hơn, đa phần trẻ viêm loét dạ dày nhập viện trong tình trạng muộn do viêm loét dạ dày ở trẻ em tiến triển rất nhanh. Bệnh nếu không được điều trị sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, đặc biệt là biến chứng gây hẹp môn vị.
Viêm loét dạ dày – nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống mà còn gây ra nhiều biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị.
Các biến chứng này nếu không được điều trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng và không điều trị triệt để dễ dẫn đến ung thư dạ dày, một dạng ung thư thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa.
Đau dạ dày rất dễ dẫn đến nhiều biến chứng khó lường, nguy hiểm nhất là ung thư dạ dày
Cắt cơn đau dạ dày không khó nhưng nếu chỉ dùng thuốc trị triệu chứng mà quên bảo vệ niêm mạc dạ dày, hạn chế bội nhiễm H.Pylori, thay đổi chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh thì viêm loét dạ dày rất dễ tái phát. Vì vậy, đau dạ dày tuy không phải nan y nhưng rất khó để chữa khỏi.


Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da
Ung thư da
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.

1.     Chức năng của da
Da bao phủ mặt ngoài của cơ thể, bảo vệ các thành phần bên trong chống lại các tác nhân có hại từ bên ngoài thâm nhập vào, ví dụ : ánh sách mặt trời. Các tế bào trên mặt da (tế bào sừng) luôn luôn bị cọ sát và được thay thế bằng các tế bào mới.
Các tế bào melanocytes sinh ra sắc tố tối màu (melanin), nhiệm vụ của sắc tố này là bảo vệ da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Ở người da trắng các tế bào melanocytes không sản xuất được nhiều sắc tố melanin như người da màu.
2.     Bệnh sinh
Hầu hết ung thư da phát sinh do bị ảnh hưởng kéo dài tác dụng tia cực tím của ánh nắng mặt trời. Các tia cực tím xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào sống, lúc đầu làm cho da rám nắng, nếu như tiếp tục bị phơi dưới ánh nắng mặt trời quá mức, tia cực tím sẽ gây nguy hiểm cho da và làm cho bạn già trước tuổi.
Một số ung thư da được phát hiện từ các nguyên nhân khác như : tia bức xạ ion hóa, các sản phẩm của nhựa than đá, thạch tín ...
3.     Bệnh học
Ung thư biểu mô tế bào đáy : hay gặp ở những vùng da hở, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Là loại ung thư dễ chữa nhất tỉ lệ khỏi bệnh gần 100%.
Ung thư biểu mô gai sừng hóa : hay phát triển từ sẹo bỏng, hoặc vết loét lâu ngày, là loại hay di căn hạch, có thể gây tỉ lệ tử vong cao, nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị hợp lý.
Ung thư hắc tố : là loại thứ 3 của ung thư da, thường khởi đầu từ một nốt ruồi lành, tàn nhang hoặc một đám sắc tố bẩm sinh (bớt) nhưng cũng có thể phát triển ở chỗ da bình thường ... đây là loại ung thư của da, hay di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.
Các loại ung thư xuất phát từ các tuyế dưới da như ung thư biểu mô tuyến mồ hôi hay tuyến bã.
4.     Yếu tố nguy cơ của ung thư da
Tất cả những người mà da của họ không thường xuyên được bảo vệ khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Những người da trắng dễ có nguy cơ bị ung thư da hơn những người da mầu.
Những người làm việc ngoài trời như nông dân, thủy thủ, người làm đường
Những người bị bệnh khô da nhiễm sắc, thiếu khả năng phòng ngừa tác hại của tia tử ngoại, có tính chất di truyền có nguy cơ cao hoặc những người bị bạch biến do rối loạn chức năng sinh sản hắc tố.
Những người có vết sẹo bỏng cũ lâu ngày do xăng, vôi hoặc các sẹo do vật gây cháy khác. Những người có vết loét hoặc ổ viêm nhiễm lâu ngày.
5.     Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư da
Vết loét dai dẳng thỉnh thoảng lại chảy máu hoặc có thể khỏi trong từng thời kì.
Những thay đổi tại một vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời như chảy máu, loét, cục nhỏ ...
Loét hay nổi cục tại vùng da đã được tia xạ từ trước hoặc tại một vết sẹo hay một đường dò.
Một vết đốm đỏ nhạt mạn tính với sự xước trợt nhẹ.
Với ung thư hắc tố các dấu hiệu cần được chú ý:
Thay đổi về màu sắc : hầu hết các ung thư hắc tố có màu sắc không đồng đều với những sắc thái khác nhau của màu nâu, đen, đỏ, trắng, xanh. Những nốt ruồi đang chuyển màu là những tổn thương đặc biệt nghi ngờ.
Ở người trưởng thành : một nốt ruồi phát triển to nhanh. Trong vài ngày hoặc vài tuần.
Thay đổi về bề mặt của nốt ruồi : từ nhẵn trở nên gồ ghề, có vẩy, hoặc loét.
Thay đổi về ranh giới : Nốt ruồi lành có ranh giới rõ, thấy nghi ngờ khi xung quanh có hình răng cưa, vết khía hoặc phát triển không đều về một phía.
Các nốt ruồi có cảm giác ngứa : ngứa, chảy máu, hoặc chảy nước vàng.
Thay đổi về độ dày của tổn thương, không đồng đều ở mọi điểm, đặc biệt quan trọng là sự thay đổi về độ dày không đối xứng.
6.     Chẩn đoán ung thư da
Nếu có dấu hiệu nghi ngờ ung thư da xin mời bạn tới các cơ sở y tế để khám bệnh. Thầy thuốc sẽ khám kĩ càng tổn thương của bạn dưới ánh sáng tốt, có kính lúp càng tốt hơn. Nếu có nghi ngờ tùy từng trường hợp sẽ giải quyết cho phù hợp theo chẩn đoán.
7.     Điều trị ung thư da
Phẫu thuật cắt bỏ rộng tổn thương là phương châm quan trọng nhất, phụ thuộc vào kích thước của tổn thương và vị trí của nó trên cơ thể.
Với các thương tổn nghi ngờ nhỏ tốt nhất nên cắt bỏ rộng để điều trị và chẩn đoán xác định.
Các thương tổn rộng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể có biện pháp điều trị phù hợp.
Với các thương tổn của ung thư hắc tố hoặc nghi ngờ là hắc tố nên được giải quyết ở cơ sở chuyên khoa để điều trị triệt để. Không được tẩy bỏ nốt ruồi bằng các phương pháp không chính thống như : bằng hóa chất, hoặc đốt bằng các vật nóng như thuốc lá hoặc thanh sắt nung nóng ... điều đó sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của bạn.
8.     Phòng bệnh ung thư da
Bạn bảo vệ da của mình như thế nào?
Mặc áo nhiều màu hoặc màu tối bằng các chất liệu tự nhiên, sẽ bảo vệ da bạn được tốt hơn là áo màu sáng bằng chất liệu nhân tạo.
Khi làm việc ngoài trời cần sử dụng nón, mũ hoặc màn che nắng, cần sử dụng mũ nón rộng vành để che được cả đầu, mặt, cổ ... hoặc tận dụng bóng râm của cây cối ...
Khi làm việc có tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ cần phải có biện pháp bảo vệ, như đi găng, đi ủng, quần áo bảo hộ, kính, mặt nạ ...
Hạn chế làm việc ngoài trời nắng từ 10 giờ sáng tới 2 giờ chiều.
Thường xuyên vệ sinh da sạch sẽ, tránh và điều trị kịp thời các triệu chứng viêm nhiễm trên da.
Với con cái bạn bảo vệ da của chúng như thế nào?
Bạn có biết không? Da của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời so với người lớn, da thường trở nên rám nắng sau vài phút tiếp xúc.
Khi da trẻ trở nên rám nắng thì khó đề phòng phát triển của ung thư da khi thành người lớn. Trong thực tế một đứa trẻ bị phơi nắng quá nhiều khi trưởng thành dễ bị ung thư da.
Vào buổi trưa (10 giờ sáng-14 giờ chiều) cố gắng giữ cho trẻ không tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, nên chọn chỗ cho trẻ ở dưới bóng cây, nếu phải ra ngoài phải dùng các biện pháp bảo vệ như : ô, mũ, nón ...
Khi trẻ lớn, nên cho trẻ tiếp xúc với "ánh nắng an toàn" để trở thành một thói quen hàng ngày của chúng sau này.
Hãy tập cho chúng cách bảo vệ da như bạn đã làm theo chỉ dẫn.
Cần nhắc lại với các bạn rằng:
Bất kì một tổn thương nghi ngờ ở da bạn hoặc của người thân nên tới vàkhuyên người thân tới các cơ sở y tế để khám.
Mọi phát hiện và chẩn đoán sớm đều tốt cho bạn trong việc điều trị triệt để. Ung thư da có thể phòng ngừa được và dễ phát hiện sớm.

Đừng phung phí cuộc sống vì căn bệnh có thể chữa khỏi này.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?



Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?


Phòng bệnh ung thư cổ tử cung, phong benh ung thu co tu cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do UTCTC. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh UTCTC cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.


Trên toàn thế giới, hàng năm có khoảng 530.232 trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung được chẩn đoán, chiếm 8.8% các trường hợp ung thư ở phụ nữ, và khoảng 275.008 phụ nữ (51.9%) chết vì ung thư cổ tử cung [1]. Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng trên 5.000 trường hợp mắc mới và trên 2.000 trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung [2].
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 [2]. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.


Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây UTCTC. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển UTCTC như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…
ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.


Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn UTCTC lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể [3].
Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán tại cơ sở chuyên khoa tuyến cuối và cập nhật ứng dụng công nghệ mới, kể từ tháng 7 năm 2012, Bệnh viện Từ Dũ chính thức đưa xét nghiệm phát hiện sớm ung thư CTC ThinPrep Pap Test vào phục vụ chẩn đoán và điều trị UTCTC tại bệnh viện.
thinPrep Pap Test được Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận đưa vào sử dụng từ tháng 05/1996. Phương pháp này hiện đang được sử dụng phổ biến tại Mỹ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực. ThinPrep Pap Test là bước cải tiến kỹ thuật của phương pháp Pap smear truyền thống, thông qua công nghệ chuyển tế bào có kiểm soát bằng màng lọc giúp làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong việc phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là ung thư tế bào biểu mô tuyến, một loại tế bào ung thư rất khó phát hiện.

Tại Việt Nam, ThinPrep Pap Tets cũng đã được triển khai rộng khắp các bệnh viện trong cả nước như: Bệnh viện Phụ Sản TW, bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Hùng Vương, Phụ sản Hà Nội, K, ung bướu Hồ Chí Minh, phụ sản Hải Phòng…
Các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng ThinPrep Pap Test tăng tỷ lệ phát hiện bệnh không chỉ ở chỗ cải thiện việc lấy mẫu bệnh phẩm mà còn do loại bớt các thành phần gây nhiễu ( máu, chất nhầy…) nhờ chuẩn bị lam bằng máy T2000.
Có thể nói, nhờ có các công cụ chẩn đoán sớm chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát căn bệnh UTCTC nguy hiểm. Mỗi phụ nữ hãy quan tâm hơn đến sức khỏe của mình bằng cách khám phụ khoa và làm xét nghiệm UTCTC định kỳ.


Những điều cần biết về ung thư tiền liệt tuyến

Những điều cần biết về ung thư tiền liệt tuyến
                                    Bác sĩ Đình Kha

Tiền liệt tuyến nằm dưới bọng đái, bàng quang, sau xương mu, trước trực tràng. Nó bao quanh niệu đạo sau. Vai trò chủ yếu là bài tiết tinh dịch giúp nuôi dưỡng và vận chuyển tinh trùng.
1.     Nguyên nhân gây ung thư tiền liệt tuyến
Ung thư tiền liệt tuyến là sự phát triển bất thường và quá mức của những tế bào của tiền liệt tuyến tạo thành ung thư.
Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân g ây nên bệnh ung thư này nhưng chưa biết đựơc rõ ràng, chỉ biết rằng bướu ác của tiền liệt tuyến, còn được gọi là ung thư, không liên quan gì đến bướu lành của tiền liệt tuyến.
Không có mối liên quan về đặc tính di truyền giữa cha mẹ với con cái
2.     Những đối tựơng nào, những độ tuổi nào dễ mắc phải bệnh này nhất

Độ tuổi trên 50 là độ tuổi thường mắc bệnh này nhất. Tỷ lệ ung thư tiền liệt tuyến tăng lên theo tuổi. Từ 60-69 tuổi, tỷ lệ ung thư tiền liệt tuyến là 30%. Từ 70-79 tuổi tỷ lệ là 40%. Từ 80-89 tuổi, tỷ lệ là 67%.
3.     Những biểu hiện, triệu chứng của bệnh
Ung thư tiền liệt tuyến có một thời gian tiềm ẩn rất dài, có thể từ 5-10 năm không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, diễn tiến chậm. Đến khi mà bướu di căn qua những cơ quan khác, nó mới gây triệu chứng.
Các triệu chứng giai đoạn này như rối loạn đi tiểu, chẳng hạn bệnh nhân tiểu khó, tiểu đêm, bí tiểu, với mức độ của tiểu khó ngày càng tăng lên. Ngoài ra, triệu chứng gây chèn ép, chẳng hạn bướu lớn xâm lấn gây chèn ép hai niệu quản, giãn niệu quản, gây ứ nước hai thận. Khi bướu chèn ép hai bên niệu quản thì bệnh nhân có thể bị suy thận, hoặc nó có thể gây chèn ép thần kinh, gây đau lưng, đau thần kinh tọa. Khi nó chèn ép vào trực tràng thì có thể gây nên táo bón hoặc đi đại tiện khó.
4.     Ành hưởng của của ung thư tiền liệt tuyến đến tuồi thọ
So với tất cả những ung thư khác, ung thư tiền liệt tuyến đỡ hơn vì diễn tiến, tiềm tàng của nó rất là chậm, rất lâu. Cho nên mục tiêu phải làm sao phát hiện sớm khi còn ở giai đoạn sớm, điều trị kịp thời thì khả năng tuổi thọ bệnh nhân đựơc kéo dài hơn. Bệnh này khi nó đã di căn, nó cũng đe dọa tính mạng người bệnh từng tháng, từng năm.
5.     Tầm soát, phát hiện bệnh tiền liệt tuyến
Người ta khuyên nam giới trên 50 tuổi nên đi khám định kỳ, thăm khám qua trực tràng để đánh giá bướu như thế nào. Thứ hai, nên đi siêu âm tiền liệt tuyến để xem có dấu hiệu bất thường gì không. Thứ ba, xét nghiệm máu, làm PSA (kháng nguyên chuyên biệt của tiền liệt tuyến). Xét nghiệm cho kết quả bình thường khi PSA có giá trị từ 0-4 nanogram/ml. Khi PSA tăng trên 30 thì tỷ lệ ung thư là 90%. Khi PSA từ 10 đến 20 thì tỷ lệ ung thư là 70%. Khi PSA <10 thì giá trị này tương đối hạn chế nghi ngờ. Nên khám định kỳ mỗi 6 tháng/lần.Khi bệnh phát hiện sớm thì tiên lựơng bệnh rất tốt, thời gian sống kéo dài hơn so với những ung thư khác.
6.      Phương pháp điều trị
Khi bệnh nhân phát hiện sớm có bướu mà chưa có di căn, chưa xâm lấn ra ngoài vỏ bao của tiền liệt tuyến thì phương pháp hàng đầu sử dụng là mổ, cắt trọn tiền liệt tuyến. Có nhiều cách, mổ hở, mổ nội soi, mổ bằng robot.  Khi cắt toàn bộ tiền liệt tuyến, bệnh nhân bất lực, không có con. Sau phẫu thuật có thể có những biến chứng như tiểu không kiểm soát, hẹp chỗ nối niệu đạo.
Ngoài việc cắt bỏ phần hư của tiền liệt tuyến, còn cách  khác nữa là có thể cắt 2 tinh hoàn, dùng nội tiết tố điều trị để khống chế  làm bướu chậ m phá t triề n. . Khi bệnh chư a di căn thì phương pháp tốt nhất vẫn là cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến.
Cũng còn có trị  liệu bệnh bằng phương pháp xạ trị liệu , làm bướu teo nhỏ lại. hoặc bằng hóa trị liệu dùng thuốc giống như những loại ung thư khác. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này rất thấp.
7.     Kết luận
Từ 50 tuổi trở lên nên đi khám định kỳ để phát hiện sớm những ung thư khi nó còn tiềm tàng, chưa di căn để kịp thời điều trị.
Khi phát  hiện sớm thì cắt toàn bộ tiền liệt tuyến và khối u. Ngoài ra, cắt tinh hoàn và dùng nội tiết tố điều trị thì có tỷ lệ tái phát trở lại.  Bác sĩ phải theo dõi định kỳ để phát hiện những bướu tái phát. Giai đọan đầu thì theo dõi mỗi tháng. Sau đó, cứ 3 tháng thử lại PSA máu để xem, nếu mức độ PSA tăng lên trở lại thì đây là dấu hiệu tái phát.

Để  ngăn chặn tỷ lệ PSA lên cao  người ta dùng nội tiết tố sinh dục nữ để làm dung hòa nội tiết tố sinh dục nam. Tuần đầu chỉ định dùng 10mg, tức 10 viên. Tuần thứ hai, dùng 5mg, tức 5 viên. Sau đó, dùng 1mg, tương đương 1 viên/ngày liên tục suốt 2 năm.

Cho đến hiện nay, người ta cũng chưa biết đựơc nguyên nhân rõ ràng của ung thư tiền liệt tuyến. Cho nên cũng chưa xác định rõ cách phòng chống ung thư này. Lời khuyên vẫn là khám định kỳ ở những người trên 50 để phát hiện ung thư sớm, điều trị kịp thời thì hiệu quả cao.